Nghiên cứu lai giống một số loài tràm (Melaleuca sp.) Nguyễn Việt Cường



Yüklə 273.28 Kb.
tarix30.08.2017
ölçüsü273.28 Kb.




nghiên cứu lai giống một số loài tràm (Melaleuca sp.)
Nguyễn Việt Cường

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu trồng thử nghiệm các loài tràm (Melaleuca sp.) trong những năm gần đây cho thấy cây tràm có khả năng thích nghi với nhiều điều kiện khí hậu, đất đai, đồng thời cho sinh trưởng nhanh không thua kém bạch đàn. Khả năng thích nghi của chúng vừa thể hiện khi trồng ở lập địa có pH axít (3 - 4) (đồng bằng sông Cửu Long), vừa ở lập địa có pH kiềm (7,5) (núi đá vôi Ninh Bình), cũng như từ đất ngập phèn theo mùa vùng Tứ Giác Long Xuyên đến vùng đất đồi trọc Ba Vì (Hà Tây) hay vùng bán ngập lòng hồ Thuỷ điện Hoà Bình. Và hiện nay cây tràm đang là đối tượng trồng rừng cho vùng ngập nước cỏ lăn cỏ lác hoặc đất bán ngập ở các lòng hồ thuộc một số tỉnh miền Bắc.

Trong những thập kỷ gần đây nghiên cứu lai giống và sử dụng giống lai đang được nhiều nhà chọn giống nông lâm nghiệp quan tâm. Ưu điểm nổi bật của giống lai trong lâm nghiệp là có ưu thế lai về sinh trưởng làm cho cây lai vượt trội hơn bố mẹ (Shull, 1911; Gyorfey, 1960; Snyder, 1972). Nhờ sử dụng giống bạch đàn lai kết hợp trồng rừng thâm canh mà một số nước như Brazil, Congo đã tạo ra được năng suất 40 - 80m3/ha/năm ( Davidson, 1998).

Do đó, việc tạo ra các giống lai cho một số loài tràm hiện có ở Việt Nam, nhằm đưa ra các giống lai mới có ưu thế lai về sinh trưởng, có khả năng chống chịu và thích nghi với một số điều kiện bất lợi của môi trường là một vấn đề được nhiều nhà chọn giống quan tâm nghiên cứu.


I. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu


1. Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu dùng trong lai giống là Melaleuca lencadendra thuộc các xuất xứ Weipa (L19, L21,L20, L9), proserpine Mackay (L2, L16, L17, L6, L7), Rifle Creek (L26, L12, L18), St. Lawrence (L4, L11, L15, L24, L25), Bensbach PNG (L39) M. viridilflora xuất xứ Weipa (V43), M. quinquenervia xuất xứ Mt. Molloy (Q40, Q41), M. cajuputi xuất xứ U Minh Thượng Kiên Giang (Ca31, Ca33), Sông Trẹm Cà Mau (Ca38), Vĩnh Hưng- Long An (Ca44).



2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu về cất trữ hạt phấn được tiến hành trong 2 điều kiện nhiệt độ là nhiệt độ phòng (20 - 30OC) và -30OC. Sức sống hạt phấn được xác định bằng tỉ lệ phần trăm (%) hạt phấn nảy mầm sau 24 giờ trong môi trường do Pryor đề xuất (Van Wyk, 1981). Tỉ lệ nảy mầm của hạt phấn được xác định theo phương pháp của Stanley và Linskens (1974).

Lai giống (thụ phấn có kiểm soát) theo phương pháp của Moncur (1995), gồm có các tổ hợp lai cùng loài khác xuất xứ (intraspecific hybrid) và lai khác loài (interspecific hybrid).

Bố trí khảo nghiệm theo William và Matheson (1994). Mật độ 6660cây/ha, khoảng cách trồng (1,5 x 1)m, phân bón 1kg phân chuồng + 0,2kg phân lân nung chảy cho mỗi hố, kích thước hố đào (30 x 30 x 30)cm. Các số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình DATAPLUS, GENSTAT (Williams & Matheson, 1994).


II. Kết quả nghiên cứu lai giống và khảo nghiệm tràm lai


1. Thời kỳ nở hoa của các loài tràm được dùng trong lai giống

Nghiên cứu thời kỳ nở hoa của các loài Tràm lencadendra (Melaleuca leucadendra) Tràm cajuputi ( Melaleuca cajuputi), Tràm viridiflora (Melaleuca viridiflora) tràm quinquenervia (Melaleuca quinquenervia) ở 2 dạng lập địa đồi núi và ngập nước theo mùa cho thấy các loài này có thời gian nở hoa và quả chín khác nhau khá rõ rệt. Các loài tràm sống trong điều kiện ngập nước theo mùa ở đồng bằng sông Cửu Long kể cả kiểu bán ngập ở vùng núi đá vôi Ninh Bình, thì chúng ra hoa và kết quả quanh năm. Tuy nhiên, thời điểm hoa nở rộ của Tràm cajuputi, Tràm leucadendra và Tràm quinquenervia tập trung 2 đợt là tháng 3- 4 và tháng 8 – 9 còn Tràm viridiflora là tháng 1-2 và 5 – 6, trong khi đó trên đất đồi trọc ở Ba Vì - Hà Tây, Tràm Leucadendra chỉ ra hoa một lần vào tháng 11-12. Như vậy, cùng một loài khi thay đổi điều kiện sống tập tính nở hoa cũng thay đổi.



2. Xác định sức sống hạt phấn và điều kiện cất trữ

Hạt phấn của các loài tràm (Melaleuca sp.) sau khi làm khô bằng silicagel ở nhiệt độ 25 - 30oC đã được cất trữ trong 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau: 20- 30OC và -30OC.

Từ những số liệu nghiên cứu ở bảng 1 đã thấy khi cất ở nhiệt độ trong phòng 20 - 30OC thì chỉ sau 1 tuần hạt phấn của Tràm leucadendra và Tràm cajuputi đã giảm tỷ lệ nảy mầm rất nhiều (còn 8,8% – 6,2%), đến tuần thứ hai đã hoàn toàn mất sức nảy mầm.

ở nhiệt độ -30OC hạt phấn của Tràm leucadendra sau 1 năm cất trữ tỉ lệ nảy mầm giảm 14,2% (từ 83,8% xuống 69,4%), sau 3 năm cất trữ vẫn giữ được tỉ lệ nảy mầm tương đối cao 54,6% (Bảng 1). Còn Tràm cajuputi sau 1 năm cất trữ tỉ lệ nảy mầm giảm 8,4% (từ 76,2% xuống 67,8%), sau 3 năm tỉ lệ nẩy mầm vẫn còn 50,4% chỉ giảm đi một phần ba so với ban đầu (Bảng 1). Như vậy, điều kiện cất trữ thích hợp cho hạt phấn tràm là -30OC .


Bảng 1. Tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn tràm ở các nhiệt độ cất trữ khác nhau




Loài

Nhiệt độ cất trữ (OC)

Tỉ lệ nảy mầm ban đầu (%)

Tỉ lệ nảy mầm (%)

1 tuần

1 năm

3 năm

X

V%

X

V%

X

V%

X

V%

Tràm leucadendra

-30

83,8

6,7







69,4

9,9

54,6

6,9




20 - 30

83,8

6,7

8,8

48,5

0




0




Tràm cajuputi

-30

76,2

7,7







67,8

10,2

50,4

13,3




20 - 30

76,2

7,7

6,2

41,7

0




0




3. Thời điểm bung phấn và tiếp nhận hạt phấn của nhuỵ

Nghiên cứu về thời gian bung hạt phấn và quá trình thay đổi hình thái nhuỵ hoa khi hoa nở là một công việc cần thiết trong lai giống nhân tạo cho các loài tràm. Cũng như ở bạch đàn hạt phấn của các loài tràm chỉ bung phấn khi hoa bắt đầu nở. Nghiên cứu về hạt phấn và thụ tinh ở 3 loài tràm (M. cajuputi, M. leucadendra, M. viridiflora) cho thấy sau khi hoa nở một ngày hạt phấn đã phát tán hoàn toàn, tuy nhiên vẫn có một lượng nhỏ hạt phấn dính trong bao phấn và chúng thường bị mất hoàn toàn sức nẩy mầm.



Các nghiên cứu về thời điểm tiếp nhận hạt phấn của nhụy được trình bày ở bảng 2. Kết quả nghiên cứu thụ phấn khác loài cho thấy cả 3 loài tràm sau khi khử đực 1 ngày tiến hành thụ phấn thì không thấy đậu quả, thụ phấn cho Tràm leucadendra bằng hạt phấn của Tràm cajuputi từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 thì có đậu quả tương ứng là 18,2%, 54,1%, 28,6%, 15,2%, khi Tràm cajuputi làm mẹ và Tràm leucadendra làm bố thì tỉ lệ đậu quả tương ứng là 9,7%, 31,4%, 22,4%, 13,7% còn khi Tràm viridiflora làm mẹ và Tràm leucadendra làm bố là 17,6%, 75,5%, 37%, 19,8%. Chứng tỏ cả 3 loài tràm này thụ phấn từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 sau khử đực đều có tỉ lệ đậu quả. Tuy nhiên ở ngày thứ 3 tỉ lệ đậu quả ở cả 3 loài là cao nhất có nghĩa là đầu nhuỵ có khả năng tiếp nhận hạt phấn tốt nhất ở ngày thứ 3 sau khử đực. Thụ phấn ngày thứ 6 sau khử đực ở cả 3 loài đều không đậu quả, quan sát đầu nhụy ở thời điểm này thấy xuất hiện nhiều đốm nâu sẫm chứng tỏ bắt đầu có hiện tượng héo. Tóm lại, thụ phấn vào ngày thứ 3 sau khử đực có tỉ lệ đậu quả cao nhất, còn khi tiến hành thụ phấn quá sớm hoặc quá muộn đều không đậu quả.

Bảng 2: ảnh hưởng của thời điểm thụ phấn đến tỉ lệ đậu quả ở một số loài tràm


Loài cây

Thời điểm thụ phấn sau khử đực(ngày)

Số hoa khử đực

Số quả thu được

Tỉ lệ đậu quả (%)

Cây mẹ

Cây bố
M. leucadendra
M. cajuputi

 1

112

0

0







2

132

24

18.2

 

 

3

109

59

54.1

 

 

4

98

28

28.6

 

 

5

99

15

15.2

 

 

6

107

0

0.0
M. cajuputi
M. leucadendra



116

0

0.0







2

113

11

9.7







3

121

38

31.4







4

107

24

22.4







5

95

13

13.7







6

132

0

0.0

M. viridiflora
M. leucadendra

 1

122

0

0.0







2

125

22

17.6

 

 

3

102

77

75.5

 

 

4

119

44

37.0

 

 

5

111

22

19.8

 

 

6

104

0

0.0

4. ảnh hưởng của phương thức thụ phấn đến phát triển của hạt

Xác định khả năng sử dụng bao cách ly trong quá trình lai giống là một việc cần thiết trong lai giống có kiểm soát. Thí nghiệm chụp bao cách ly trước và sau khử đực ở các loài tràm (bảng 3) cho thấy, tất cả các công thức khử đực không thụ phấn và chụp bao cách ly đều không đậu quả. Nói một cách khác, công tác khử đực là triệt để và việc chụp bao cách ly đã cách ly hoàn toàn được hạt phấn ngoại lai, chứng tỏ việc chụp bao cách ly trước và sau khi thụ phấn có kiểm soát là hoàn toàn có tác dụng và cần thiết trong lai giống.



Số liệu bảng 3 cho thấy cây L2 làm mẹ hoặc bố đều cho tỉ lệ đậu quả tương đối cao, từ 49,7% đến 85%. Trong lúc đó L25 chỉ làm mẹ cho tỉ lệ đậu quả tốt từ 44% đến 62,2%, nhưng khi làm bố lại cho tỉ lệ đậu quả là 16,6% đến 27,5%. Còn khi L7, Ca31 và Ca38 làm mẹ còn bố là các loài khác thì cho tỉ lệ đậu quả thấp từ 14,6% đến 29,7%. Các cây Q40 và V43 lại cho tỉ lệ đậu quả cao 54,9% - 74,9%. Điều đó chứng tỏ tuỳ thuộc từng loài cây và cây cá thể mà chọn làm bố hoặc mẹ để cho khả năng đậu quả tốt nhất.

Bảng 3. ảnh hưởng của phương thức thụ phấn đến tỷ lệ đậu quả ở 4 loài tràm


Loài và công thức thí nghiệm

Số quả thụ phấn

Số quả thu được

Tỉ lệ đậu quả (%)

X

Sd

V%

L27 Khử đực không thụ phấn

176

0










L6 - Khử đực không thụ phấn

63

0










L25 - Khử đực không thụ phấn

214

0










L26 - khử đực không thụ phấn

97

0










Q40 - Khử đực không thụ phấn

221

0










V43 - Khử đực không thụ phấn

188

0










L2L24

374

217

67,0

26,6

39,6

L2L4

311

173

54,2

20,7

38,2

L2L18

55

46

85,0

7,1

8,3

L2L19

41

26

63,7

16,0

25,1

L2Ca31

945

588

64,8

26,8

41,4

L2Ca44

418

212

49,7

21,3

42,9

L27L2

69

38

61,0

19,8

32,5

L26L2

555

332

79,4

66,6

22,4

L25L2

682

320

56,5

49,9

27,7

L20L2

402

197

55,6

16,1

29,0

L25Ca31

964

485

47,1

18,0

38,2

L25L2

682

320

56,5

49,9

27,7

L25L27

308

130

44,0

21,7

49,3

L25L26

583

315

64,5

57,3

18,2

L25L18

852

546

62,2

13,1

21,0

L7L25

357

43

16,6

9,3

63,9

L19L25

46

13

27,5

3,5

12,8

L21L25

303

50

19,9

17,7

88,9

L7Ca31

216

21

15,4

13,6

88,1

L7L24

420

55

17,2

15,1

87,5

L7L25

357

43

14,6

9,3

63,9

L7L27

388

48

18,7

12,3

65,9

L7L19

464

62

16,7

16,7

99,5

Ca31L2

76

13

18,1

6,6

36,6

Ca38L2

83

26

29,7

25,7

86,3

Q40L18

223

121

54,9

27,6

50,3

Q40L21

295

103

42,1

23,3

55,5

V43Ca31

763

594

72,9

24,3

33,3

V43L18

571

474

74,9

17,9

23,9

5. Sinh trưởng của các giống tràm lai và loài bố mẹ

Tràm (Melaleuca sp.) là nhóm cây được gây trồng chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó loài Melaleuca cajuputi là loài cây mọc tự nhiên ở vùng này (Simpson, 1995). Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, cây tràm được coi là một trong số các loài cây mũi nhọn được ưu tiên phát triển trồng rừng trên các vùng đất phèn.

Kết quả nghiên cứu và gây trồng nhiều năm cho thấy trong nhiều loài tràm được nhập nội vào nước ta chỉ có một số loài sinh trưởng nhanh và có khả năng thích ứng lớn. Trong đó đáng chú ý là các loài M. leucadendra có sinh trưởng nhanh nhưng hay bị sâu bệnh phá hoại, còn M. cajuputi, M. viridiflora tuy có sinh trưởng chậm hơn M. leucadendra, nhưng lại ít bị chuột và sâu bệnh phá hoại. M. quinquenervia là loài có sinh trưởng chậm hơn so 3 loài kia nhưng lại nhóm cây vừa lấy gỗ vừa lấy tinh. (Nguyễn Trần Nguyên, Hoàng Chương 1998; Thái Thành Lượm, 1996; Phùng Cẩm Thạch và cộng tác viên, 2002). Vì vậy nghiên cứu lai giống các loài cây này với nhau nhằm tìm ra giống lai vừa có sinh trưởng nhanh nhưng lai chống sâu bệnh phá hoại hoặc giống lai có sinh trưởng nhanh và hàm lượng tinh dầu cao là mục tiêu cho các nhà chọn giống và cải thiện giống quan tâm nghiên cứu.

- Sinh trưởng giống tràm lai ở vườn ươm. Quan sát ban đầu cho thấy hầu hết các tổ hợp lai đều có tốc độ nảy mầm và tỉ lệ nảy mầm cao hơn các giống đối chứng của công ty giống cũng như giống bố mẹ của chúng. Hầu hết các giống lai tại vườn ươm đều không bị sâu ăn lá trong đó các giống đối chứng ở Cà Mau, Long An và giống của công ty giống đều bị sâu ăn lá. Sau 7 tuần cấy chiều cao cây lai đã đạt 50 - 60 cm, trong lúc đó các giống đối chứng chỉ đạt 15 -20 cm. Như vậy, ngay giai đoạn vườn ươm các giống lai đã có ưu thế lai về sinh trưởng và có khả năng chống sâu bệnh cao hơn bố mẹ. Hiện tại các giống lai này đã được tiến hành khảo nghiệm tại Kinh Đứng (Cà Mau), Hòn Đất (Kiên Giang), Thạch Hoá (Long An), Đại Lải (Vĩnh Phú), Ba Vì (Hà Tây), Gia Hoà - Gia Viễn (Ninh Bình).

- Đánh giá bước đầu về kết quả khảo nghiệm giống tràm lai tại Ninh Bình và Đại Lải



ảnh 4: Khảo nghiệm giống tràm lai tại Ninh Bình năm 2002

Tham gia khảo nghiệm có 32 tổ hợp lai trong loài khác xuất xứ được tạo ra từ năm 1999 đến 2001, cùng với giống sản xuất tốt nhất là Tràm leucadendra và các giống lấy từ cây trội được chọn làm bố mẹ như L18, L9, L25, L7 để làm đối chứng.



Sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả của lai giống và ưu thế của cây lai so với các loài bố mẹ. Kết quả đo đếm sinh trưởng của cây lai giai đoạn 6 tháng tuổi (bảng 4) tại Đại Lải – Vĩnh Phú và Gia Viễn – Ninh Bình cho thấy: Tại đất bán ngập núi đá vôi ở Ninh Bình tổ hợp lai L18L9 (xuất xứ Rifle Creek và Weipa) có sinh trưởng nhanh nhất sau 6 tháng chiều cao đạt 1,86m, trong khi đó bố mẹ chúng đạt 1,7m và 1,72m, giống đối chứng là 1,54m. Các số liệu ở bảng 4 cũng cho thấy sau 6 tháng có 11 tổ hợp lai sinh trưởng nhanh hơn giống sản xuất tốt nhất. Tại Đại Lải, trên điều kiện đất ven hồ nghèo dinh dưỡng ngập theo mùa, tầng A mỏng (dày không quá 30cm) khả năng giữ nước kém trong mùa thu đông, trong 26 tổ hợp lai chỉ có 6 tổ hợp lai có sinh trưởng nhanh, chiều cao từ 1m đến 1,14 m trong lúc giống sản xuất tốt nhất chỉ đạt 0,96m. Nhìn chung ở cả hai khảo nghiệm chỉ có các tổ hợp lai L18L và L25L là có sinh trưởng nhanh hơn giống sản xuất. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận xét ban đầu vì tuổi khảo nghiệm còn quá nhỏ, chưa thể có đánh giá chắc chắn.

Bảng 4: Sinh trưởng của một số giống tràm lai tại Đại Lải và Ninh Bình

giai đoạn 6 tháng tuổi


Tại Ninh Bình

Tại Đại Lải

Tổ hợp

Do (cm)

Hvn (m)

Tổ hợp

Do (cm)

Hvn (m)

Xtb

Sd

Xtb

Sd

Xtb

Sd

Xtb

Sd

L18

1,74

0,08

1,70

0,05

L25L2

1,50

0,14

1,14

0,04

L18L9

1,65

0,13

1,86

0,10

L4L7

1,16

0,12

1,06

0,05

L9

1,38

0,09

1,72

0,07

L6L12

1,11

0,12

1,05

0,05

L18L17

1,53

0,10

1,73

0,09

L25L17

1,16

0,07

1,03

0,03

L18L4

1,76

0,11

1,70

0,04

L25L9

1,17

0,09

1,02

0,04

L18L25

1,60

0,11

1,59

0,05

L1L12

1,06

0,05

1,01

0,04

L18L24

1,26

0,05

1,56

0,04

L18L17

1,13

0,12

0,99

0,04

L16L20

1,63

0,08

1,69

0,08

L18L24

0,92

0,04

0,90

0,03

L25L17

1,54

0,06

1,66

0,03

L18L4

1,02

0,10

0,89

0,04

L19L18

1,52

0,07

1,66

0,07

L18L25

1,01

0,10

0,84

0,03

L19L4

1,51

0,06

1,65

0,04

L22L18

1,25

0,11

1,03

0,05

L17L9

1,38

0,04

1,63

0,04

L4L18

1,14

0,12

0,97

0,05

L25L9

1,50

0,09

1,63

0,06

L7L18

1,05

0,07

0,92

0,03

Giống Sx

1,27

0,04

1,54

0,06

L21L18

0,99

0,09

0,88

0,04

L20L2

1,53

0,03

1,52

0,06

L19L18

0,70

0,06

0,75

0,04

L21L18

1,23

0,05

1,52

0,05

L6L9

1,01

0,14

0,98

0,05

L7L9

1,33

0,11

1,51

0,10

Giống Sx

0,88

0,05

0,96

0,03

L21L11

1,30

0,03

1,50

0,04

L18

1,07

0,07

0,92

0,03

L20L25

1,55

0,08

1,48

0,04

L18L9

0,90

0,07

0,96

0,04

L22L18

1,44

0,05

1,48

0,04

L9

0,83

0,07

0,90

0,04

L25

1,52

0,07

1,47

0,03

L4L2

1,01

0,10

0,95

0,04

L17L11

1,25

0,03

1,46

0,05

L7L4

1,17

0,11

0,95

0,05

L7L25

1,38

0,12

1,46

0,07

L7

1,12

0,06

0,92

0,05

L24L2

1,32

0,06

1,37

0,03

L17L9

0,77

0,04

0,90

0,04

L7L8

1,26

0,03

1,34

0,02

L7L25

1,05

0,09

0,89

0,03

L7

1,31

0,06

1,34

0,06

L25

0,95

0,06

0,83

0,03

L15L16

1,16

0,03

1,25

0,04

L4L6

0,77

0,04

0,81

0,03
















L20L2

0,90

0,06

0,78

0,04
















L16L20

0,83

0,05

0,77

0,03
















L19L4

0,65

0,04

0,72

0,02
















L20L25

0,79

0,05

0,70

0,03

L.S.D

0,32




0,33







0,45




0,29




Fpr

0,023




0,118







0,231




0,42




III. Nhận xét

Từ các nghiên cứu về lai giống và khảo nghiệm giống tràm lai có thể đi đến một số nhận xét sau đây:

1. ở các loài tràm (Melaleuca sp.) khi thay đổi điều kiện sống thì tập quán ra hoa cũng thay đổi.

2. Hạt phấn của các loài tràm có thể cất trữ trong 3 năm ở điều kiện nhiệt độ -30oC.

3. Nhụy hoa tiếp nhận hạt phấn tốt nhất vào ngày thứ 3 sau khi khử đực và chụp bao cách ly.

4. Cả 3 loài tràm sau khi khử đực không thụ phấn đều không đậu quả.

5. Tại vườn ươm các giống tràm lai đã biểu hiện ưu thế lai về sinh trưởng và có khả năng chống sâu bệnh cao hơn bố mẹ.

6. Tại 6 tháng tuổi bước đầu có thể chọn được 4 tổ hợp lai L18L19, L25L17, L25L9 và L25L2 có sinh trưởng nhanh hơn giống sản xuất tốt nhất.



Tài liệu tham khảo


  1. Davidson. J, (1998). Domestication and breeding programme for Eucalyptyus in the Asia-Pacific region. Food and Agriculture Organization of the United Nations. Philippines, 252 trang.

  2. Gyozfey, B., (1960). Hybrid vigoz in forest trees and the genetic explanation of heterosis. Eideszeti lut. 56, trang 327 - 340

  3. Hoàng Chương và Nguyễn Trần Nguyên, 1995. Một số kết quả ban đầu về khảo nghiệm các loài và xuất xứ tràm nhập nội trên đất ngập phèn tại Miền Tây Nam. Tạp chí Lâm nghiệp số 5/1995 trang 15-16.

  4. William, E. R and Matheson, A. C., (1994). Experimental Design and Analysis for Use in Tree Improvement. CSIRO, Melbourne and ACIAR, Canberra, 174 trang.


Summary

The paper points out the benefit and necessity to create hybrids of some Melaleuca species in Vietnam at present. Melaleuca species that are subject to research on hybridization and trial are M.leucadendra, M.cajuputi, M.viridiflore and M.quinquenervia with different provenances. Preliminary research results show that 4 hybrid combinations L18L19, L25L17, L25L9 and L25L2 can be selected with growth faster than that of the best germplasm used in production.




ảnh 4: Khảo nghiệm giống tràm lai trên Kinh Đứng Cà Mau năm 2002


Verilənlər bazası müəlliflik hüququ ilə müdafiə olunur ©azkurs.org 2016
rəhbərliyinə müraciət

    Ana səhifə