Vũ Quang Nam1, Đặng Văn Hà Trường Đại học Lâm nghiệp Vũ Văn Thịnh



Yüklə 92.32 Kb.
tarix21.08.2017
ölçüsü92.32 Kb.
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THẢM THỰC VẬT RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Quang Nam1, Đặng Văn Hà

Trường Đại học Lâm nghiệp



Vũ Văn Thịnh

Vườn quốc gia Ba Bể



TÓM TẮT

Vườn quốc gia Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn là một trong những nơi lưu giữ mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi của vùng đông bắc Việt Nam, có tính đa dạng sinh học cao của các thảm thực vật rừng. Tính đa dạng khu hệ thực vật cùng với các yếu tố phát sinh quần thể khác đã tạo nên ở Vườn quốc gia Ba Bể hai kiểu thảm thực vật rừng chính, đó là: Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa Á nhiệt đới núi thấp và Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới. Theo vị trí địa hình, độ cao và cấu trúc, VQG Ba Bể có 08 kiểu rừng chính, đó là: Rừng trên đỉnh núi đá vôi (có độ cao 900m trở lên so với mặt biển), Rừng trên núi đất lẫn đá (có độ cao 900m trở lên so với mặt biển), Rừng trên núi thấp (có độ cao 500 - 900m), Rừng trên đỉnh-sườn núi đá vôi độ cao 300 - 500m, Rừng trên núi đất lẫn đá, Rừng trên đồi và núi thấp nằm trên những thung lũng xen kẽ với dãy núi đá vôi, Rừng ven mặt nước, Rừng tre nứa và Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy.



Từ khóa: Ba Bể, thảm thực vật, vườn quốc gia

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ nhằm quản lý, bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn các nguồn gen động, thực vật hoang dã trên cạn, dưới nước và các cảnh quan trên địa bàn; nơi đây lưu giữ mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi của vùng đông bắc Việt Nam, có tính đa dạng sinh học thực vật cao. Vùng lõi VQG Ba Bể có tổng diện tích 10.048 ha, trong đó: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 3.931 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 6.083 ha, phân khu hành chính dịch vụ: 34 ha. VQG Ba Bể là một phức hệ hồ-sông-suối-núi đá vôi, từ dốc mạnh đến dốc đứng với nhiều hang động. Địa hình chia cắt mạnh vừa có núi đất vừa có núi đá, độ cao biến đổi từ 150-1000m, bao bọc xung quanh là các dãy núi cao 800-1500m, v.v. Chính vì tọa độ vị trí địa lý, địa hình phân chia phức tạp, tiểu khí hậu vùng, đất đai thổ nhưỡng, hệ thống sông, hồ chằng chịt và nhiều nhân tố sinh thái khác đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao của thảm thực vật rừng VQG Ba Bể. Để bổ sung và cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, giá trị khoa học, môi trường,…của các trạng thái thảm thực vật nơi đây, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại VQG Ba Bể và bài viết là một phần kết quả trong số đó.



2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng

Các trạng thái thảm thực vật rừng tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.



2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra thực địa: Thực hiện theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [4] và Hoàng Chung (2008) [2]. Các tuyến được lập dựa trên bản đồ địa hình và đặc trưng cho các dạng sinh cảnh ở vùng lõi của Vườn; các ô tiêu chuẩn với diện tích 500m2 được tiết lập trên mỗi dạng sinh cảnh để đo đếm và xác định cấu trúc, các ưu hợp thực vật. Sử dụng GPS để xác định độ cao đặc trưng của mỗi kiểu thảm và máy ảnh để chụp lại tất cả các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu. Thu mẫu tiêu bản được thực hiện theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [4].

- Xử lý nội nghiệp: Định tên loài được thực hiện chủ yếu theo Nguyễn Tiến Bân (1997) [1], Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) [3], và Xing et al. (2009) [6]. Phân chia các kiểu thảm thực vật theo Thái Văn Trừng (2000) [5].

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Khái quát chung về thảm thực vật rừng tại VQG Ba Bể

Tính đa dạng khu hệ thực vật cùng với các yếu tố phát sinh quần thể khác đã tạo nên ở Vườn quốc gia Ba Bể hai kiểu thảm thực vật rừng chính, đó là: Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa Á nhiệt đới núi thấp và Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới.

Rừng trên núi đá vôi chiếm một diện tích tương đối lớn trên địa hình núi đá vôi, nằm rải rác trong khu vực VQG Ba Bể trên các sườn, đỉnh núi đá vôi thấp cho tới trung bình, địa hình dốc, hiểm trở. Hệ sinh thái rừng thuộc kiểu này thường có hai tầng cây chính, tầng trên thường không liên tục. Loài ưu thế trong quần xã thực vật ở đây là nghiến (Excentrodendron tonkinense) và một số loài cây đi kèm như Đinh (Fernandoa brilletii), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Giâu gia xoan (Allospondias lakonensis), Thung (Tetrameles nudiflora), Trám mao (Garuga pinnata), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lòng măng cụt (Pterospermum truncatolobatum), v.v.

Tầng dưới là những quần xã thực vật mà ưu thế là loài Ôrô (Streblus ilicifolius), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Đẹn ba lá (Vitex trifolia), Nang trứng hải nam (Hydnocarpus hainanensis), v.v. Cây rừng thường có đường kính trung bình 40cm và chiều cao trên 20m. Một đặc điểm nổi bật về cấu trúc của loại rừng này là cây thường phân bố tập trung ở các cấp đường kính lớn hơn 40 - 50cm và ở các đường kính nhỏ dưới 15cm. Trong các hệ sinh thái rừng loại này, cây bụi, dây leo và thảm tươi phân bố thưa, ít phát triển. Trạng thái rừng này thường phân chia thành các ưu hợp thực vật như sau:



  • Ưu hợp Nghiến (Excentrodendron tonkinense) + Trai (Garcinia fagraeoides) + Lòng mang cụt (Pterospermum truncatolobatum) + Ô rô (Streblus ilicifolius) + Sấu (Dracontomelon duperreanum) + Dẻ (Castanopsis sp.). Phân bố ở độ cao khoảng 400- 700m, hầu hết tại phía Nam của VQG như Khau Qua, Nâm Dài, Kéo Siu, Lũng Nham, Thác Đầu Đẳng - Nà Kéo, v.v.

  • Ưu hợp Sấu (Dracontomelon duperreanum) + Lát hoa (Chukrasia tabularis) + Đinh thối (Fernandoa brilletii) + Dọc (Garcinia sp. ) + Cà ổi (Castanopsis indica); thường gặp ở Nậm Dài, Kéo Siu, Dọc Pần.

  • Ưu hợp De (Cinnamomum sp.) + Gội (Aglaia lawii) + Ôrô (Streblus ilicifolius); thường gặp ở khu vực Cốc Tộc, Kéo Siu.

  • Ưu hợp Cà lồ (Caryodaphnopsis tonkinensis) + Muồng (Zenia insignis) + Giâu gia xoan (Allospondias lakonensis) + Dâu vàng (Morus macroura) + Nghiến (Excentrodendron tonkinense) + Vầu đắng (Indosasa crassifolia); xuất hiện chủ yếu tại khu vực Nậm Dài, Khau Qua.

3.2. Các kiểu thảm thực vật rừng tại VQG Ba Bể

3.2.1. Rừng trên đỉnh núi đá vôi (có độ cao 900m trở lên so với mặt biển)

Dạng này có diện tích rất nhỏ, xong tại đây có thành phần hệ thực vật khác hẳn so với các đỉnh núi thấp trong khu vực VQG Ba Bể. Các loài thường xuất hiện thưa thớt, sinh trưởng kém vì lớp đất mặt rất mỏng và chỉ tập trung tại các khe, hốc đá; chủ yếu chỉ có một lớp thảm mục trên bề mặt đá. Thành phần các loài cây gỗ thay đổi mạnh theo chiều cao lên đến đỉnh.

Thành phần các loài cây ít phong phú: Dẻ cau (Quxcus sp.), Sồi (Lithocarpus sp.) Re hương (Cinnamomum paxthenoxylon), Hồi (Illicium difengpi), tô hạp (Altingia siamensis), Sến đất trung hoa (Sinosideroxylon wightianum),… chiều cao 6-10m và nhiều gốc cây Thiết sam giả (Pseudotsuga brevifolia), Thông nhựa (pinus merkusii), Thông tre (Podocarpus neriifolius) đã bị chặt hạ và một số ít cây tái sinh còn sót lại. Lớp cây bụi chủ yếu loài Mạy công (Bambusoideae) phủ dầy đặc cùng một số loài trong các họ Cói (Cyperaceae), họ Cau dừa (Arecaceae), họ Lan (Orchidaceae) với một số loài điển hình quý hiếm Paphiopedilum emersonii, (Paphiopedilum micranthum) và các loài Dương xỉ (Gleicheniaceae, Polypodiaceae,…).

3.2.2. Rừng trên núi đất lẫn đá (có độ cao 900m trở lên so với mặt biển)

Diện tích rừng này chiếm một diện tích nhỏ tại khu vực Khao Qua (đỉnh Pù Nộp Chắp), với hệ thực vật có nhiều điểm khác so với rừng trên đỉnh núi đá vôi trung bình. Các loài cây tầng cao có đường kính 30-50cm, chiều cao 15-22m, rừng có ba tầng cây chính. Tầng trên gồm các loài Dẻ (Castanopsis spp), các loài cây sồi (Lythocarpus spp), các loài trong Re (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae), Bò hòn (Sapindaceae), Trám (Burceraceae), Xoan (Meliaceae), Xoài (Anacardiaceae)… Một số loài thường gặp: Dẻ gai (Castanopsis indica), Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaica), Dẻ lá tre (Quercus bambusifolia), Trám trắng (Canarium album), Xoan nhừ (Cherospondias axillaris). Tầng cây bụi gồm một số loài trong họ phụ tre nứa (Bambusoidae), Sim (Myrtaceae), Cà phê (Rubiaceae),…Ở những nơi độ dốc dưới 50 độ vầu đắng mọc rầy đặc có chiêu cao 6-10m. tầng thảm tươi gồm một số loài cây trong họ cỏ (Poaceae) đặc biệt ở những nới ít cây gỗ cố loài giang đặc (Dendrocalamus sp) mọc che kín mặt đất. Tai khu vực có một số ít loài cây gỗ quý hiếm: Sồi phảng (Lithocarpus cerebrinus), Sến mật (Madhuca pasquieri), Giổi xương (Paramichelia baillonii), Trám đen (Canarium nigrum), các cây bụi, thảm tươi có: Bổ béo đen (Goniothalamus vietnamensis), Râu hùm (Tacca subflabellata), Kim tuyến (Anoectochilus setaceu),… không thấy xuất hiện một loài cây nào của thực vật ngành thông, trừ dây gắm.



3.2.3 Rừng trên núi thấp (có độ cao 500 - 900m)

Các loài phổ biến gồm Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Côm (Elaeocarpus sp.), Đẹn ba lá (Vitex trifolia)), Trâm (Syzygium spp), Quéo (Mangifera sp.), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), một số loài cây trong họ Đinh (Bignoliaceae) và Trúc đào (Apocynaceae). Các loài khác cũng xuất hiện nhưng phổ biến là Trai (Garcinia fagraeoides), Giổi ford (Manglietia fordiana), Ô rô (Streblus ilicifolius), Muồng (Zenia insignis), Nhọc (Mitrephora maingayi), De (Cinnamomum sp.). Sự có mặt của các loài Dao (Arenga pinnata) và Móc nương (Caryota urens) cũng là một trong những nét nổi bật của kiểu rừng này. Trong nhóm thực vật thân tre trúc mọc trên đất, Sặt (Arundinaria sp.) chiếm ưu thế và hình thành các quần hợp dầy đặc phủ kín mặt đất. Các loài thân thảo khác như các loài Thiên nam tinh (Aricaema spp.), Thổ tế tân (Asarum sp.) và một số loài trong họ lan (Orchidaceae), họ Khúc khắc, (Similacaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Nho Vitaceae và các loài Dương xỉ thuộc họ Gleicheniaceae, Polypodiaceae.

Trong kiểu thảm thực vật này đã gặp một số loài phong Lan, đặc biệt đã gặp loài lan: Thanh thiên quỳ (Nervilia fordii), Chân trâu (Nervilia aragoana), Lan Kim tuyến (Anoectochius setaceus), Kim tuyến đá vôi (Anoectochius calcareus), Hài emeson (Paphiopedilum emersonii), Hài mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Tiên hài (Paphiopedilum Hirsutissimum) và Tiên hài vàng xanh (Paphiopedilum sp.). Đây là những loài quí hiếm cần được bảo vệ.

3.2.3. Rừng trên đỉnh-sườn núi đá vôi độ cao 300 - 500m

Rừng cây gỗ trên các đỉnh núi đá có độ cao 300 - 500m so với mặt biển có hệ thực vật rất phát triển. Phụ thuộc vào độ dốc và điều kiện đất, rừng ở đây phân làm hai tầng và đôi khi thành ba tầng. Tầng tán gồm các cây cao 20 - 30m, đôi khi có các cây vượt tán cao 35 - 40m. Chu vi thân cây dao động từ 40 - 90cm, hệ rễ phát triển nông và nhiều cây có bạnh vè, tán lá của các cây gỗ thường có hình trứng hoặc hình ô và rất lớn với bán kính từ 4 - 12m. Do vậy tầng trên thường rất kín. Trong tầng tán này các loài cây gỗ ưu thế nhất là Sấu (Dracontomelum duperreanum), Giâu gia xoan (Allospondias lakonensis), Thung (Tetrameles nudiflora), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Muồng (Zenia insignis), Sui (Antiaris toxicaria), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Côm (Elaeocarpus sp.). Các loài phổ biến khác cũng gặp trong tầng tán là Phay (Duabanga grandiflora), Nhội (Bichofia trifolia), các loài Sung (Ficus spp.), Trâm (Syzygium sp.), Kháo (Litsia sp.), De (Cinnamomum sp.), Đẻn ba lá (Vitex trifolia), Bông bai (Eriolaena candollei), Sồi (Lithocarpus sp.), Dẻ (Castanopsis sp.), Chẹo (Engelhardtia chrysolepis), Dâu Vàng (Morus macroura), Trường mật (Pometia pinnata).

Các cây gỗ tầng thứ hai thường cao đến 20m. Đây đó tầng này rất phát triển nhưng ở một số nơi lại rất thưa. Các loài phổ biến nhất trong tầng này là Vàng Anh (Saraca dives), Đại phong tử (Hydnocarpus anthenminthica), Nang trứng hải nam (Hydnocarpus hainanensis), Sòi bàng (Sapium rotundifolium), Tung (Stereospermum neuranthum), Thị Đá (Diospiros sp.), Côm (Elaeocarpus sp.), Sảng (Sterculiaceae nobilis), Nhọc (Mitrephora maingayi).

Tầng thứ ba gồm các cây gỗ từ 4 – 12m và cũng rất phát triển. Mạy tèo (Streblus macrophyllus) là loài chiếm ưu thế nhất ở dạng rừng này. Các loài phổ biến khác gồm Sung (Ficus spp.), Đơn nem (Myrsina sp.), Máu chó (Knema tonkinensis), Roi rừng (Syzygium sp.) và một số loài trong họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Gai (Urticaceae). Các loài cây Cau dừa (Arecaceae) phổ biến ở dạng rừng này là Đao (Arenga pinnata) và Móc nương (Caryota urens), Mây nếp (Calamus tetradactylus).



3.2.4. Rừng trên núi đất lẫn đá

Loại rừng này chiếm một diện tích không lớn lắm trong khu vực. Thành phần loài chủ yếu ở đây là Phay (Duabanga grandiflora), Sấu (Dracontomelum duperreanum), Dẻ (Castanopsis spp.), Sồi (Lithocarpus sp.), Xoan nhừ (Choerospondias axillaries), Lát trắng (Acrocarpus fraxinifolius), Dung giấy (Simplocos laurina), Dâu vàng (Morus macroura), Sếu (Celtis sinensis), Nóng (Saurauja tristyla), Giổi xương (Paramichelia baillonii), Giổi lông (Michelia balansae), Táu muối (Vatica diospyroides),… Ở những nơi ít bị tác động cây rừng cao trên 20m, đường kính trung bình tới 60m. Ở những nơi đã bị tác động nhưng đang phục hồi trở lại thường gặp các loài Sếu (Celtis sinensis), Tiêng (Eriolena malvacea), Núc nác (Oroxulom indicum), Ô rô (Streblus ilicifolius), … Các loài: Sến mật (Madhuca pasquieri), Giổi xương (Paramichelia baillonii), Giổi lông (Michelia balansae), Táu muối (Vatica diospyroides) chỉ thấy xuất hiện lác đác tại khu vực núi đất lẫn đá khu vực Khao Qua xung quanh núi Pù Nộc Chắp.



3.2.5. Rừng trên đồi và núi thấp nằm trên những thung lũng xen kẽ với dãy núi đá vôi

Thảm thực vật ở đây có nhiều loại cây lớn hơn, chiều cao trung bình trên 20m đường kính 5 - 7cm thường gặp hai loại ưu hợp đó là Dẻ (Castanopsis sp.) + De (Cinnamomum sp.) + Dâu vàng (Morus macroura) + Lát (Chukrasia tabularis),… Mọc trên thung lũng ở cao từ 600 - 800m là ưu hợp Lát (Chukrasia tabularis) + Đinh thối (Hexaneoroncarpon brelletii) + Dâu vàng (Morus macroura) + De (Cinnamomum sp.) + Dẻ (Castanopsis sp.) + Thung (Tetrameles nudiflora),… mọc ở các thung lũng trên độ cao 200 – 300m.



3.2.6. Rừng ven mặt nước

Trong khu vực VQG Ba Bể nhiều chỗ thảm thực vật rừng phát triển tới sát mép nước hồ tạo nên một trạng thái rừng ven bờ nước rất đặc biệt. Các loài ưu thế gồm Vối rừng (Cleistocalyx operculatus), Đa, si (Ficus spp.), Nhội (Bischofia trifolia), Đại phong tử (Hydnocarpus anthelminthica), Sưa (Danbergia sp.), … Các loài cây mọc ven bờ sông từ hồ Ba Bể đến động Puông phổ biến là các loài Sung (Ficus spp.), Cơi (Pterocarya stenoptera), Bỏng nổ (Flueggea virosa), … Có nhiều chỗ cây gỗ rừng mọc xen với các bụi cây Trúc dây, v.v.



3.2.7. Rừng tre nứa

Các loài tre nứa điển hình ở khu vực VQG Ba Bể như Vầu đắng, Trúc sào, Trúc cần câu, Giang, Nứa, Trúc dây, … hầu như không mọc thành quần thể thuần loài mà chúng thường mọc xen kẽ với các loài cây gỗ trên diện tích khá rộng trong toàn khu vực.

Trong các quần thể rừng tre nứa hỗn loài có các loài cây gỗ ở tầng trên: Dẻ Castanopsis sp.), De (Cinnamomum sp.), Dâu vàng (Morus macroura), Nhọc (Polyalthia sp.), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Sảng (Sterculia lanceolata), Đinh Thối (Fernandoa brilletii), Gội (Aphanamixis grandifolia). Ở tầng dưới có các loài Nhậm hôi (Clausena excavata), Nhọc (Polyalthia sp.), Kháo (Phoebe sp.), Tích thụ (Acer laurinum) và gội (Aphanamixis grandifolia). Trong thảm cỏ chiếm ưu thế là một số loài Dương xỉ. Tại khu vực Khau Qua, Vầu đắng (Indosasa crassifolia) mọc tương đối tập trung từ độ cao 500-1000m. Có một số đại diện ưu hợp như:

- Ưu hợp Vầu đắng (Indosasa crassifolia). Được hình thành do khai thác gỗ, củi. Phần lớn cây gỗ rừng nguyên sinh đã bị khai thác, thành phần cây gỗ chủ yếu là cây tiên phong ưa sáng với mật độ thưa như: Bồ đề (Styrax tonkinensis), Trám trắng (Canarium album), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Dẻ (Castanopsis sp.), De (Cinnamomum sp.), Dâu vàng (Morus macroura), Giổi xương (Paramichelia baillonii),...

- Cây trúc dây(Ampelocalamus sp.) loài thực vật được coi là đặc hữu của khu vực hồ Ba Bể, không mọc thành những quần thể thuần loại mà chúng thường mọc xen với các loài cây gỗ trên diện tích khá rộng trong khu vực. Theo một số thống kê trước đây Trúc dây chỉ có ở ven hồ hai tới vách núi chạy theo sông Năng tới gần thác Đầu Đẳng. Qua điều tra cho thấy Trúc dây phân bố tại sườn núi đá khu vực xã Quảng Khê và phân bố từ ven hồ hai và ba tới các sườn núi đá vôi khu vực Nậm Dài với chiều rộng 2,5km.

3.2.8. Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy

Gồm những diện tích nhỏ phân bố rải rác hầu hết trong khu vực VQG và có thành phần loài đơn giản và chủ yếu cây tiên phong ưa sáng. Rừng có 1 tầng cây gỗ, 1 tầng cây bụi và thảm tươi. Tầng cây gỗ cao 7 - 15m, đường kính 10 - 25cm. Thành phần gồm các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh. Có các ưu hợp sau:

- Vối thuốc (Schima ưallichii) + Bồ đề (Styrax tonkinensis) + Nóng (Saurauja tristyla) + Thôi ba (Alangium chinensis) + Kháo (phoebe sp.) + Xoan nhừ (Choerospondias axillaris) + Cứt ngựa (Archidendron turgidum). Gặp tại khu vực Đốc Cáng Lò.

- Lát hoa (Chukrasia tabularis) + Núc nác (Oroxylum indicum) + Nhọc (Polyalthia sp.) + Sếu (Celtis sinensis) + Mọ (Deutzianthus tonkinensis) + Lát trắng (Acrocarpus fraxinifolius) + Thổ mật (Bridelia ovata) + Trương vân (Toona surelii) + Sảng (Sterculiaceae nobilis). Bắt gặp tại khu vưc ven hồ một.

- Sếu (Celtis sinensis) + Mọ (Deutzianthus tonkinensis) + Bông bai (Eriolaena candollei). Bắt gặp tại khu vực Kéo Siu.

- Muồng (Zenia insignis) + Lòng mang (Pterospermum heterophyllum) - Dẻ (Castanopsis sp.) + Thôi ba (Alangium chinensis) + Dung (Simplosos laurina) + Chẹo (Engelhadtia robuxghiana). Phân bố tại khu vực Kao Qua-Nậm Dài.



KẾT LUẬN

- Vườn quốc gia Ba Bể có hai kiểu thảm thực vật rừng chính, đó là: Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa Á nhiệt đới núi thấp và Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới.

- Theo vị trí địa hình, độ cao và cấu trúc, VQG Ba Bể có 08 kiểu rừng chính, đó là: Rừng trên đỉnh núi đá vôi (có độ cao 900m trở lên so với mặt biển), Rừng trên núi đất lẫn đá (có độ cao 900m trở lên so với mặt biển), Rừng trên núi thấp (có độ cao 500 - 900m), Rừng trên đỉnh sườn núi đá vôi độ cao 300 - 500m, Rừng trên núi đất lẫn đá, Rừng trên đồi và núi thấp nằm trên những thung lũng xen kẽ với dãy núi đá vôi, Rừng ven mặt nước, Rừng tre nứa và Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


  1. Nguyễn Tiến Bân, 1997. Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

  2. Hoàng Chung, 2008. Các phương pháp nghiên cứu Quần xã thực vật. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

  3. Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2000. Cây cỏ Việt Nam. Nxb Trẻ TP. HCM.

  4. Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007. Các phương pháp nghiên cứu thực vật. Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội.

  5. Thái Văn Trừng, 2000. Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, TP. HCM.

  6. Xing, F.W. et al., 2009. Landscape Plants of China (vol. 1-2). Huazhong University of Science and Technology Press.



SOME RESULTS ON FOREST VEGETATION AT BA BE NATIONAL PARK, BAC KAN PROVINCE

Vu Quang Nam, Dang Van Ha

Vietnam Forestry University



Vu Van Thinh

Ba Be National Park



SUMMARY

Ba Be National Park belonging to Bac Kan Province ​​is one of the standard sample storage ecosystem limestone forests of Northeastern Vietnam with high biological diversity of forest vegetation. The diversity of flora along with factors arising populations created in Ba Be National Park with two main forest vegetation types, such as: The subtropical rainy evergreen broadleaf closed forest in lower montane and the tropical rainy evergreen closed forest. Based on topographic location, elevation and structure, Ba Be National Park has 08 major forest types, namely: Forests on limestone peaks (altitude 900m or more above sea level), forest on soil mountain with rocks (with an elevation of 900m or more above sea level), lower montane forest (altitude 500 - 900m), forest on top-ridge limestone (altitude 300 - 500m), forest on lower soil mountain with rocks, forests on the hills and low mountains lying on the valley interspersed with limestone mountains, forests along the water, bamboo forest and secondary forest recovery after cultivation.



Keywords: Ba Be, national park, vegetation,


1 Email: namvq1975@gmail.com; Tel.: 0984.622.611


Verilənlər bazası müəlliflik hüququ ilə müdafiə olunur ©azkurs.org 2016
rəhbərliyinə müraciət

    Ana səhifə